Thuế nhập khẩu được xác định theo xuất xứ của hàng hóa, không theo nước gửi hàng. Trên tờ khai hải quan, mỗi dòng hàng chỉ được khai một xuất xứ và áp một mức thuế suất. Khi hóa đơn thương mại gộp nhiều xuất xứ trong cùng một dòng mà không tách riêng số lượng và trị giá theo từng nước, doanh nghiệp không đủ cơ sở để hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt (FTA), buộc phải áp thuế suất MFN hoặc thông thường cho phần không xác định được, đồng thời đối mặt rủi ro kiểm hóa và ấn định thuế. Giải pháp tối ưu hợp pháp duy nhất là yêu cầu nhà cung cấp tách dòng hàng theo từng xuất xứ và cấp chứng từ chứng nhận xuất xứ tương ứng.
Vì sao xuất xứ hàng hóa chứ không phải nước gửi hàng quyết định thuế suất nhập khẩu?
Một trong những nhầm lẫn phổ biến nhất trong nghiệp vụ nhập khẩu là đồng nhất "nước gửi hàng" với "nước xuất xứ". Đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau và có giá trị pháp lý khác nhau. Nước gửi hàng (hoặc nước xuất khẩu) là quốc gia mà từ đó lô hàng được vận chuyển đến Việt Nam, thường trùng với địa chỉ người bán trên hợp đồng. Trong khi đó, xuất xứ hàng hóa là quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nơi hàng hóa được sản xuất ra hoặc được gia công, chế biến cơ bản cuối cùng theo các quy tắc xuất xứ.
Thuế suất thuế nhập khẩu được áp dụng căn cứ vào xuất xứ, không căn cứ vào nơi xuất phát của chuyến hàng. Một nhà phân phối đặt tại Đức hoàn toàn có thể giao những lô hàng được sản xuất tại Pháp, tại Philippines hoặc tại nhiều quốc gia khác nhau. Việc hàng rời cảng từ Đức không khiến hàng trở thành "xuất xứ Đức", và do đó cũng không tự động cho hàng hưởng bất kỳ ưu đãi thuế quan nào áp dụng cho hàng có xuất xứ Đức hay xuất xứ EU. Doanh nghiệp phải xác định chính xác xuất xứ thật của từng phần hàng hóa thì mới biết được mức thuế suất đúng phải nộp.
Nguyên tắc và tiêu chí xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hiện nay được quy định tại Nghị định 31/2018/NĐ-CP (hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa) và Thông tư 33/2023/TT-BTC của Bộ Tài chính về kiểm tra, xác định và xác minh xuất xứ tại khâu hải quan.
Ba mức thuế suất thuế nhập khẩu và vai trò quyết định của chứng từ chứng nhận xuất xứ
Theo Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016, thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu được chia thành ba nhóm, và xuất xứ là yếu tố quyết định doanh nghiệp được áp nhóm nào:
- Thuế suất ưu đãi đặc biệt: áp dụng cho hàng hóa có xuất xứ từ quốc gia, nhóm quốc gia hoặc vùng lãnh thổ có ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) với Việt Nam. Đây thường là mức thuế thấp nhất, nhiều dòng hàng về 0%. Điều kiện cốt lõi để hưởng mức này là phải có chứng từ chứng nhận xuất xứ hợp lệ theo đúng hiệp định tương ứng.
- Thuế suất ưu đãi (MFN): áp dụng cho hàng hóa có xuất xứ từ các nước, vùng lãnh thổ có thỏa thuận đối xử tối huệ quốc với Việt Nam (bao gồm các thành viên WTO). Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi MFN hiện hành được ban hành kèm Nghị định 26/2023/NĐ-CP.
- Thuế suất thông thường: áp dụng cho hàng hóa không thuộc hai trường hợp trên, ví dụ hàng đến từ quốc gia không có thỏa thuận MFN với Việt Nam. Mức thuế thông thường được ấn định bằng 150% mức thuế suất ưu đãi MFN của cùng mặt hàng.
Như vậy, chứng từ chứng nhận xuất xứ (thường gọi chung là C/O) chính là chìa khóa để tiếp cận mức thuế thấp. Không có C/O hợp lệ thì dù hàng thực sự được sản xuất tại một nước thành viên FTA, doanh nghiệp vẫn không được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt và phải chấp nhận áp mức MFN. Khoản chênh lệch thuế giữa các nhóm có thể rất lớn và trực tiếp ảnh hưởng đến giá vốn hàng nhập.
Khi một lô hàng có nhiều xuất xứ nhưng hóa đơn không tách số lượng và trị giá thì khai báo thế nào?
Trên tờ khai hải quan điện tử, mỗi dòng hàng tương ứng với một mã HS, một xuất xứ và một mức thuế suất. Hệ thống không cho phép một dòng hàng mang đồng thời hai xuất xứ khác nhau. Do đó, nếu một lô hàng gồm các sản phẩm có xuất xứ từ nhiều nước, về nguyên tắc doanh nghiệp phải tách thành nhiều dòng hàng, mỗi dòng khai đúng xuất xứ và số lượng, trị giá tương ứng của phần hàng đó.
Vấn đề phát sinh khi nhà cung cấp xuất một hóa đơn gộp chung, ghi nhiều xuất xứ cho cùng một mặt hàng nhưng không bóc tách rõ mỗi nước bao nhiêu chiếc, trị giá bao nhiêu. Trong tình huống này, doanh nghiệp không có cơ sở số liệu để phân bổ số lượng và trị giá cho từng xuất xứ, dẫn tới một số hệ quả bất lợi:
- Không đủ điều kiện áp thuế suất ưu đãi đặc biệt cho phần hàng đáng lẽ được hưởng, vì C/O và tờ khai phải khớp về số lượng, trị giá theo từng xuất xứ.
- Cơ quan hải quan có cơ sở áp mức thuế suất cao hơn (MFN hoặc thông thường) cho phần hàng không chứng minh được xuất xứ ưu đãi, theo nguyên tắc có lợi cho thu ngân sách khi hồ sơ không đầy đủ.
- Rủi ro bị chuyển luồng kiểm tra thực tế hàng hóa (kiểm hóa). Nếu kết quả kiểm hóa cho thấy số lượng theo từng xuất xứ chênh lệch so với khai báo, doanh nghiệp có thể bị xử lý về hành vi khai sai.
- Khả năng bị ấn định thuế nếu cơ quan hải quan không chấp nhận trị giá hoặc xuất xứ khai báo do thiếu chứng từ chứng minh.
Nói cách khác, việc để hóa đơn gộp nhiều xuất xứ không tách lượng không phải là cách "tối ưu thuế", mà ngược lại thường khiến doanh nghiệp mất quyền hưởng ưu đãi và gánh thêm rủi ro pháp lý.
Làm thế nào để tối ưu thuế nhập khẩu một cách hợp pháp?
Tối ưu thuế trong nhập khẩu không có nghĩa là che giấu hay khai sai xuất xứ, mà là chủ động chuẩn bị hồ sơ để hưởng đúng mức ưu đãi mà hàng hóa thực sự đủ điều kiện. Doanh nghiệp nên thực hiện các biện pháp sau:
- Trước tiên, làm việc với nhà cung cấp để tách dòng hàng theo từng xuất xứ ngay trên hóa đơn thương mại và phiếu đóng gói: mỗi nước sản xuất một dòng riêng, ghi rõ số lượng và đơn giá, trị giá. Đây là điều kiện tiên quyết để khai báo và áp thuế chính xác.
- Sau đó, yêu cầu nhà cung cấp cung cấp chứng từ chứng nhận xuất xứ phù hợp cho từng phần hàng. Với hàng có xuất xứ thuộc Liên minh châu Âu, cơ chế ưu đãi áp dụng là Hiệp định EVFTA, sử dụng chứng từ tự chứng nhận xuất xứ (REX) hoặc C/O mẫu EUR.1. Với hàng có xuất xứ từ một nước thành viên ASEAN như Philippines, cơ chế áp dụng là Hiệp định ATIGA với C/O mẫu D.
- Nếu tại thời điểm thông quan chưa có đủ chứng từ chứng nhận xuất xứ, doanh nghiệp có thể khai báo nợ và nộp bổ sung trong thời hạn theo quy định tại Thông tư 33/2023/TT-BTC để vẫn được xem xét hưởng ưu đãi sau khi bổ sung hợp lệ.
- Đối với mặt hàng có giá trị lớn hoặc nhập khẩu thường xuyên, doanh nghiệp nên sử dụng thủ tục xác định trước xuất xứ với cơ quan hải quan để chủ động về mức thuế suất trước khi hàng về.
- Đồng thời, phân loại đúng mã HS cho hàng hóa. Mã HS quyết định mức thuế suất nền của cả ba nhóm thuế; phân loại sai mã HS có thể làm sai toàn bộ nghĩa vụ thuế dù xuất xứ đã đúng.
Cần lưu ý rằng ngay cả khi có đầy đủ C/O, hàng hóa vẫn phải đáp ứng quy tắc vận chuyển trực tiếp và các tiêu chí xuất xứ của hiệp định tương ứng thì mới được hưởng ưu đãi.
Những rủi ro pháp lý khi khai gộp hoặc khai sai xuất xứ để né thuế
Một số doanh nghiệp có xu hướng khai gộp toàn bộ lô hàng về một xuất xứ duy nhất có thuế suất thấp, hoặc khai theo nước gửi hàng cho tiện. Đây là cách làm tiềm ẩn rủi ro lớn. Cơ quan hải quan có quyền kiểm tra, xác minh xuất xứ và từ chối chứng từ chứng nhận xuất xứ nếu phát hiện không phù hợp. Khi bị từ chối C/O, doanh nghiệp mất ưu đãi thuế, bị truy thu phần thuế chênh lệch và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp.
Ngoài ra, khai sai số lượng theo từng xuất xứ còn có thể bị xem là khai sai về hàng hóa, dẫn đến hậu quả nặng hơn nếu kết quả kiểm hóa chênh lệch so với khai báo. Vì vậy, minh bạch và tách bạch xuất xứ ngay từ chứng từ đầu vào luôn là lựa chọn an toàn và tiết kiệm chi phí nhất về dài hạn.
Ví dụ minh họa: lô ti ngậm silicone mua từ Đức, xuất xứ hỗn hợp Pháp và Philippines
Xét tình huống thực tế: một doanh nghiệp mua lô ti ngậm silicone cho trẻ em (baby pacifier) từ một nhà phân phối tại Đức. Hàng được hãng giao ngẫu nhiên, gồm sản phẩm có xuất xứ Pháp và xuất xứ Philippines, nhưng hóa đơn không tách riêng số lượng và trị giá theo từng nước.
Áp dụng các nguyên tắc nêu trên, hướng xử lý phù hợp là: hàng không được mặc nhiên hưởng ưu đãi theo nước gửi là Đức; doanh nghiệp cần đề nghị nhà cung cấp phát hành lại hóa đơn và phiếu đóng gói tách hai dòng theo xuất xứ Pháp và Philippines, kèm số lượng, trị giá cụ thể. Với phần xuất xứ Pháp, đề nghị chứng từ tự chứng nhận xuất xứ theo EVFTA để hưởng thuế ưu đãi đặc biệt; với phần xuất xứ Philippines, đề nghị C/O mẫu D theo ATIGA. Phần hàng nào không có chứng từ xuất xứ hợp lệ sẽ phải áp thuế suất MFN theo Nghị định 26/2023/NĐ-CP. Đồng thời, mặt hàng ti ngậm silicone cần được phân loại HS chính xác để xác định mức thuế suất nền và các điều kiện quản lý chuyên ngành (nếu có) đối với sản phẩm dùng cho trẻ em.
Cách làm này vừa bảo đảm tuân thủ pháp luật, vừa giúp doanh nghiệp hưởng tối đa ưu đãi thuế mà hàng hóa thực sự đủ điều kiện, thay vì đánh đổi bằng rủi ro bị truy thu và xử phạt về sau.
Nguồn tham khảo
- Các trường hợp C/O bị hải quan từ chối và cách doanh nghiệp xử lý (Weimex)
- Nhãn gốc hàng nhập khẩu vào Việt Nam có được ghi xuất xứ viết tắt không? (Weimex)
- Nghị định 26/2023/NĐ-CP về Biểu thuế xuất khẩu, Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi (Chính phủ)
- Thông tư 33/2023/TT-BTC về xác định xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (Bộ Tài chính)
- Doanh nghiệp cần lưu ý đến quy tắc xuất xứ trong EVFTA (Bộ Công Thương)